Chủ Nhật, 21 tháng 6, 2026

Phê Phán Công Đường (P1)

Phê (bình) và Phán (quyết) Công Đường (trước công chúng).

Phê bình là một sự nhận xét công bằng (bình) tức là cả 2 mặt thuận (Pro) và nghịch (Con). Phê bình không phải là vuốt đuôi (kiểu mèo khen mèo dài đuôi) thì vô ích. Vì muốn phê bình một sự kiện, biến cố, tài liệu ... thì phải hiểu đầu đuôi câu chuyện, gốc tích, lịch sử, nguồn gốc, nguyên do, căn cơ, toàn diện cũng như yếu tố đặc biệt đóng góp vào diễn biến; kể cả các điều kiện ẩn hiện, xa gần và cuối cùng là vai trò của nhà phê bình phải độc lập, vô tư vì ích lợi của sự thật, tinh thần xây dựng tập thể không vì đảng phái, tham vọng hay sợ hãi. Do đó phải là nhân vật có tu dưỡng và người có tu dưỡng không có nhiều (có thể là tìm không ra). Vậy thì làm sao thực hiện Phê Phán Công Đường?

Nếu từ số ít tu dưỡng (thắng nhân) không có được thì có thể nào số nhiều (thiếu tu dưỡng) được dùng để thay thế (gọi là dân chủ) trong việc thực hiện công bằng (bình) xã hội?  Dĩ nhiên đám đông thì ô hợp, hỗn tạp về ý kiến, kiến thức, suy luận. Lấy quốc hội làm thí dụ cụ thể về một đám đông, được chọn lựa để làm luật đã bát nháo, mâu thuẫn, chống phá, âm mưu triệt hạ, phe nhóm khi làm luật và biểu quyết dự luật với đủ các thủ thuật để vượt qua luật pháp và ngay cả hiến pháp. Nếu làm luật đã như vậy thì thi hành luật (hành pháp) sẽ như thế nào? Và xử luật (tư pháp, toà án) sẽ ra sao? Phê Phán Công Đường có số thành viên tương đương với quốc hội thì sẽ góp ý chung để phê bình lập pháp, hành pháp, tư pháp sẽ là buổi chợ không bao giờ ngưng thì làm sao có kết quả về "phê" và "phán"?

Vì lý thuyết Duy Dân dựa trên "thiết giáo" và "sinh mệnh tâm lý" để thực hiện thắng nghĩa bởi thắng nhân. Nhưng thắng nhân từ đâu ra? Giáo dưỡng chế độ như thế nào để có người phục vụ trong Phê Phán Công Đường? Phê phán đòi hỏi lý luận. Nếu không nắm vững biện chứng pháp Duy Dân thì sẽ lý luận như thế nào?

Khi Phê Phán Công Đường là tập họp các tầng lớp dân trong xã hội thì đòi hỏi sự thống nhất về phê phán là điều khó thực hiện. Nhất là Cơ Năng Hiến Pháp đặt tư pháp, lập pháp thuộc về hành chánh (Trị) phục vụ cho cả Quốc Trưởng (hành pháp) lẫn Trung Tâm Hội Nghị (quốc hội). Một tòa xử không xong dẫn đến hành pháp và Trung Tâm Hội Nghị xung đột ý kiến thì Phê Phán Công Đường sẽ xử như thế nào để thực hiện đan quyền đúng như Cơ Năng Hiến Pháp vạch ra. Khi đan quyền là từng bước người dân tham dự để kiểm soát quyền lực được sử dụng đúng mức thì quyết định sẽ không thiên Tả hay Hữu, trên (lãnh đạo) hay dưới (đáy tầng).

Để đào tạo một thế hệ có tu dưỡng đạt công bằng với chính bản thân và xã hội là điều khó gần như không tưởng. Nhưng nếu không có thể hệ mở đầu thì sẽ không có thế hệ thứ hai, ba để tham dự Trung Tâm Hội Nghị và Phê Phán Công Đường. Phê phán thì phải trung thực với sự kiện. Nhưng "sự thật mất lòng" mà lại đòi hỏi đám đông (Trung Tâm Hội Nghị, Phê Phán Công Đường) nhất trí thì hơi khó nếu không nói là quá khó.

Tuy rằng thu phục "nhân tâm" phải dựa vào lòng (tâm) người thì quyết định của Phê Phán Công Đường phải đạt yếu tố đó. Vì phê bình và quyết định chỉ là phần đầu. Phần sau là thi hành. Cũng như tòa án xử án mà không thể thực hiện bản án thì vô ích vì công lý chỉ dừng tại lời nói. Vậy tòa án cần cảnh sát tư pháp để thực thi bản án (truy nã và bắt giam tội phạm). Nhưng đối với Phê Phán Công Đường thì đối tượng không phải là một cá nhân mà là cơ quan, tập thể thì biện pháp thi hành sẽ là gì? Ngoài việc vô hiệu hóa các hoạt động của cơ quan (bị phê phán) thì cắt giảm ngân sách (bị phê phán) hay thay thế nhân sự (bị phê phán) phải đạt hiệu quả tức thời (tự động) mà không cần phải có luật hay được thi hành bởi cơ quan công lực. 

Khó khăn khác của Phê Phán Công Đường là cơ quan trung ương do nhân sự các nơi, nghề nghiệp, kiến thức khác nhau thì khó mà tìm ra con số 300-500 nhân sự để tham dự Phê Phán Công Đường. Cho dù giảm thiểu xuống dưới 300 thì các nhân sự này có hội đủ điều kiện về thiết giáo, sinh mệnh tâm lý, và biện chứng pháp để tham dự tiến trình phê phán?

Nét độc đáo của Phê Phán Công Đường là tạo cơ hội thực hiện đan quyền có thể can thiệp vào hoạt động của Quốc Trưởng (hành pháp), tư pháp viện, lập pháp viện cũng như Trung Tâm Hội Nghị (quốc hội). Thay vì qua giới truyền thông (báo chí) phê bình, điều tra tam quyền phân lập rồi bị lệ thuộc tài chính hay áp lực (khi tam quyền rơi vào tay một đảng) sẽ mất tính độc lập.

Nếu lãnh đạo cơ quan (hành pháp) hay toàn thể (quốc hội) bị phê phán vì hành động (hay lời nói) thì ngoài chuyện hợp lý-lẽ còn là hợp ý dân (vì là tập thể từ dân). Nhưng hỏi vì sao xảy ra tình trạng đó khi các nhân vật nắm giữ vai trò đó (hành pháp, lập pháp) đều được tuyển chọn? Phải chăng để tránh sai lầm khi làm cấp trên thì phải có phê bình ngay từ cấp dưới? Chúng ta đã thấy trường hợp bộ trưởng bị điều tra đã sa thải trưởng ban điều tra. Cũng như tổng thống thay thế người nắm giữ bộ thanh tra (inspector general) hay tư pháp vì điều tra thân nhân hay người quen, bạn bè với tổng thống.

Vậy nếu phê phán không xảy ra từ cấp dưới để tu chỉnh sinh hoạt bảo vệ dân chủ, công bằng xã hội thì mọi thành công kinh tế chỉ lâu đài trên cát. Nhưng đa số cho rằng "phê phán" sẽ đưa đến tranh cãi làm mất hòa khí, đoàn kết. Đó là một sự ngụy biện vì biện chứng pháp đòi hỏi thực hiện phương pháp từng bước một theo căn bản Học (triết-khoa-sử) thì không còn vướng mắc về tôn giáo, chủng tộc....

Sinh hoạt phê phán cũng là cơ hội thử thách khả năng tu dưỡng của mỗi cá nhân trước tập thể. Có người cho rằng Duy Dân khó thực hiện nhưng khi hiến pháp với tam quyền phân lập đã thất bại thì tại sao không thử hiến pháp (Cơ Năng Hiến Pháp) mới? Cổ nhân đã nói "đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông". Người khác lại cho rằng nếu "ai" cũng có tu dưỡng thì thành tiên, phật hết rồi khỏi mất công đi làm cách mạng. Đó là ngụy biện về tôn giáo vì con người có vận mệnh khác nhau nên mới có người khôn, kẻ ngu.

Kẻ ác lợi dụng người kém may mắn, gây bất công xã hội. Cách mạng là thay đổi xã hội hợp tình, hợp lý trên căn bản "Toại kỳ sở nhu. Tận kỳ sở năng. Chính kỳ sở mệnh". Công bằng xã hội đòi hỏi minh bạch (transparency). Minh bạch đòi hỏi sự thật (sống biết, sống đúng, sống thật). Muốn biết sự thật phải biết phê phán, lý luận biện chứng chứ không thể "tin nơi thượng đế “ (in god we trust) hay thề trên kinh thánh, bàn thờ tổ quốc hay quốc kỳ.

Khi công lý dựa trên chữ nghĩa đã chết (không thay đổi) nhân danh thần công lý (không thấy đường vì bịt mắt) mà phán quyết không giải thích. Bản án không thống nhất với tội phạm. Cơ hội và hình phạt không tương xứng giữa nạn nhân và tội nhân khi quan hệ giữa tòa án và bộ tư pháp là tranh chấp quyền lực không có người dân tham dự.

Phê Phán Công Đường (P2)

Trần Công Lân

Tháng 5 năm 2026 (Việt lịch 4905)

https://nganlau.com/2026/06/15/phe-phan-cong-duong-p1/

 

Phê Phán Công Đường (P2)

 

Cơ cấu và con người

Con người lập thuyết đưa ra cơ cấu công quyền. Nhưng chính quyền cũng do con người điều hành. Từ quân chủ chuyên chế sang quân chủ đại nghị, từ dân chủ tư bản đến dân chủ cộng sản, dân chủ đại nghị đến dân chủ xã hội ... vẫn chưa đem lại hòa bình cho thế giới vì thiếu tiêu chuẩn chung: cương thường.

Tôn giáo đã thất bại khi không thực hiện được hòa bình nơi cá nhân. Tôn giáo đem lại xung đột thì không còn là tôn giáo mà trở thành tà giáo và không còn lý do tồn tại cho dù có hàng triệu tín đồ hay tiền bạc. Đặc  điểm là tà giáo hay độc tài đều chống lại sự phê phán, minh bạch. Do đó Phê Phán Công Đường là cơ quan cần thiết cho hòa bình thế giới và công lý cho nhân loại.

Có thể nào thông minh nhân tạo (AI) sẽ giúp tiến trình thực hiện Phê Phán Công Đừng nhanh hơn chăng? Nếu ai tin rằng AI sẽ giúp tiến trình Phê Phán này thì cần phải suy nghĩ lại. AI là sản phẩm của Con Người và Con Người xấu sẽ tạo AI thành sản phẩm xấu có hại đến xã hội. Cần phải biết AI dùng vào việc nào bởi nếu không sẽ gây xáo trộn. Phải hiểu "Căn bản luận" của AI phát xuất từ trung tâm tin tức (data center). Tiến trình thu thập tin tức của các trung tâm do công ty X trách nhiệm (đúng, sai, hư, thực, chưa ngã ngũ, chưa rõ rệt hay dứt khoát; vấn đề Y được xác định năm A, phủ định năm B thì sẽ thông tin A va B hay chỉ có B, bỏ A...). Nếu AI của công ty Google nói một đàng, AI của công ty Microsoft nói một nẻo khác thì bạn tin theo ai?

AI có thể có lý trí nhưng có tình cảm không? Chắc chắn là không. Các nhà sản xuất AI chỉ nhìn được một chiều (ích lợi của AI đem lại) mà chưa nhìn ra chiều nghịch (hại như thế nào). Khi chưa giải quyết sai lầm quá khứ về tự do, dân chủ, nhân quyền, bình đẳng... mà chỉ muốn lao đầu về phía trước chỉ vì ích lợi cho kẻ chụp giựt, bỏ chạy và để lại đống rác cho thiên hạ chịu. 

Khi vũ trụ tiếp tục bành trướng (sau Big Bang), loài người tăng dân số, thiên nhiên thay đổi ... nếu con người không chấp nhận phê phán để sửa đổi thì sẽ tận diệt như các nền văn minh trước đây. Khuynh hướng "bảo thủ" sẽ không thể nhắm mắt, bịt tai để duy trì giá trị "bảo thủ" mãi khi bên ngoài thay đổi. Khuynh hướng "tiến bộ" cũng phải xét lại hướng tiến đi về đâu?

Nếu không chấp nhận phê phán, mạng xã hội không thể là nơi thăm hỏi ý kiến, hội ý, ăn cắp ý kiến, xúi giục thời trang ... để trở thành lãnh đạo hay nhân vật có ảnh hưởng qua tin giả. Khi tiến bộ kỹ thuật, khoa học nằm trong tay một số tài phiệt không chấp nhận phê phán (vì đã mua chuộc giới truyền thông) thì còn nguy hiểm hơn độc tài. Vì độc tài cần dân để cai trị (Trung Cộng). Còn tài phiệt dùng dân để thí nghiệm khả năng và sản phẩm mới (Covid, Ebola, Hantavirus).

Để xây dựng lại chế độ dân chủ, chúng ta cần người tìm hiểu Duy Dân để học tập phê phán. Điều này không có nghĩa là cứ phê phán sẽ hiểu Duy Dân hay biết Duy Dân mà không chấp nhận phê phán. Một xã hội lành mạnh, tử tế cần có con người lành mạnh, tử tế.

Duy Dân có thể khó thực hiện nhưng trong thế giới Âm Dương thì không thể tồn tại một chiều vì Sinh-Thành-Hoại-Diệt tiếp nối. Khi người dân ý thức chết dưới chế độ độc tài hay chết vì tranh đấu cho tự do, dân chủ thì cái chết giống nhau nhưng bài học cho con cháu khác nhau.  Nghiệp khó thay đổi nhưng Mệnh nối tiếp nhau thành Nghiệp. Có "chính kỳ" thì mới "sở Mệnh". Biết Mệnh thì mới giải Nghiệp. Muốn biết Mệnh lý thì phải biết Âm Dương (dịch học), biết cân bằng qua phê phán bản thân. Từ công bằng cá nhân sẽ đi đến công bằng xã hội.

Khi hiến pháp quy định cơ chế chính quyền mà dân chủ có nghĩa đa đảng. Tuy đảng chính trị là tập hợp nhân sự cùng chí hướng nhưng làm sao có sự khác biệt khi các đảng có cùng mục tiêu xây dựng dân chủ nhưng khác phương thức làm việc. Làm sao biết đảng nào có đường lối hữu hiệu để thực hiện mục đích nếu không có lý thuyết. Từ lý thuyết dẫn đến kế hoạch. Kế hoạch đòi hỏi thảo luận: nội bộ hay công chúng? Qua bầu cử, dân chọn đảng A thực hiện kế hoạch thì nếu thất bại là trách nhiệm chung. Nhưng còn đảng đối lập? Một khi A thất bại cho thấy kế hoạch của B (đối lập) đúng thì (1) A tự động sửa sai. (2) Dân yêu cầu A sửa sai. (3) Phải chờ bầu cử để B thay thế. Vậy thì càng nhiều đảng thì dân càng mất thời giờ theo dõi sinh hoạt các đảng. Vậy có nên giới hạn tối đa 3 đảng để tránh rơi vào cực đoan Tả-Hữu?   

Nhưng "sở mệnh" không dễ khi cá nhân không nhận thức được chính mình thuộc "Đức tầng" (lý tưởng, nhân cách, sinh mệnh), "Nghiệp tầng" (sáng ý, quản lý, hành động) hay "Tri tầng" (bất tri, hậu tri, tiên tri). Tri kiến không đến từ sở học nơi trường (thông minh) mà đến từ tu dưỡng (khôn ngoan). Giáo dục Tây phương chỉ là huấn nghệ: thi cử lấy bằng cấp nhưng không bảo đảm ai cũng giỏi và thành công. Khả năng và tất năng (năng khiếu) bị lạm dụng vì lợi nhuận.

Kinh tế thị trường tạo cơ hội thăng tiến năng khiếu (không có nhiều) thì ép buộc khả năng làm thêm giờ để đạt hiệu suất cho dù gây thiệt hại thân-tâm kẻ theo đuổi vì tham lợi. Có hiến pháp nào quy định chính quyền bảo vệ an sinh cho người dân phải lao động quá mức khi thân và tâm bị giới hạn? Khi các đảng chính trị tranh quyền lực đã kêu gọi "tự do" chọn lựa, làm giàu, tìm hạnh phúc... mà không phơi bày mặt trái của vấn đề khi chọn lựa? Hay cho rằng người dân không quan tâm đến sự phê bình? Bỏ qua phê bình tức là bỏ qua công bằng thì khi thất bại cho dù không khiếu nại cũng trở thành gánh nặng xã hội.

Kết

Thực hiện Phê Pháp Công Đường theo Duy Dân là một trong những khó khăn của Cơ Năng Hiến Pháp nhưng cũng là động cơ chính của đan quyền cho phép người dân can thiệp tức thì vào các hoạt động của Quốc Trưởng và Quốc Hội khi trái ngược ý dân chứ không đợi tới mùa bầu cử sắp tới. Hành pháp dân chủ chỉ cho phép người dân làm chủ vào ngày bầu cử rồi sau đó ngồi xem giới lãnh đạo tung hoành thì đó là dân chủ nửa đường và nửa sự thật thì không hoàn toàn là sự thật.

Trần Công Lân

Tháng 5 năm 2026 (Việt lịch 4905)

https://nganlau.com/2026/06/15/phe-phan-cong-duong-p2/

 

 

Chủ Nhật, 7 tháng 6, 2026

Con Người và Cơ Năng Hiến Pháp

 

Trong cộng đồng Việt Nam, từ Mỹ đến Úc, đã có người viết một bản hiến pháp cho một Việt Nam tự do dân chủ. Những bản hiến pháp này dựa vào cơ chế hiện tại mà họ đang sống để dựng lên một bản hiến pháp cho Việt Nam tương lai. Đây là một cố gắng tốt. Nhưng rồi đến ¼ thế kỷ thứ 21, thực tế chứng minh là cơ chế Tam Quyền Phân Lập của Mỹ hoàn toàn phá sản.

Cơ chế Mỹ lúc được hình thành do những người tốt, có tâm niệm phục vụ xã hội để thành lập một cơ chế hầu tránh chuyện độc tài, độc quyền xảy ra mà họ đã từng trốn chạy từ bên Âu Châu. Tuy nhiên khi những người sáng lập ra nước Mỹ, tuy có lòng tốt, họ vẫn kỳ thị cho nên dù tuyên bố mọi người sinh ra bình đẳng nhưng thực tế, người nô lệ Mỹ đen, người phụ nữ hoàn toàn không có quyền đi bầu cử ở cái thời điểm trên. Tuy rằng sau này lỗ hổng đó được sửa đổi nhưng nhiều lỗ hổng khác được lộ ra và không thể nào sửa đổi dưới cơ chế đảng tranh hiện giờ.

Muốn đề nghị một cơ chế hiến pháp thì điều quan trọng phải hiểu được sinh hoạt của Con Người ra sao. Điều này ít ai quan tâm ngoại trừ Lý Đông A, người viết ra tư tưởng Duy Dân, khó hiểu bởi sự súc tích mà người đọc cần phải lắng đọng tâm để hiểu và diễn giải vào đời sống thực tế. Chính vì sự khó hiểu này, tư tưởng Duy Dân được viết từ hồi 1940 đến hôm nay vẫn chưa có bao nhiêu người nắm rõ để đem vào thực tế, gồm cả những người gọi là đảng viên Duy Dân.

Là người quan tâm đến Con Người và Xã Hội, Lý Đông A quan sát sinh hoạt của Con Người để từ đó ông dựng lên một cơ chế gọi là Cơ Năng Hiến Pháp. Ông không dùng từ ngữ Hiến Pháp mà ghép chữ Cơ Năng vào cái Hiến Pháp đó bởi ông tin rằng sinh hoạt của một cơ chế phải dựa vào thuyết Cơ Năng và Bản Vị từ tư tưởng Duy Dân thì mới đạt được hiệu quả cao.

Chính quyền được hình thành từ những Con Người quan tâm đến sinh hoạt của đời sống người và chính quyền được hình thành bởi cái mục đích là Thiết Kế và Chấp Hành Nhân Sinh chứ không phải là mục đích được lãnh đạo, được ăn trên nằm trước, được nằm trên luật mà hình ảnh sinh hoạt chính trị của Mỹ hiện rõ.

Tiêu chuẩn đầu tiên của những người tham gia vào công việc Thiết Kế và Chấp Hành Nhân Sinh này phải là người có đạo đức và phải từng phục vụ trong quân đội. Tại sao thế? Bởi một người không có đạo đức, họ sẽ xem thường đời sống của Nhân Sinh, họ sẵn sàng đưa ra những chính sách đi ngược lại đời sống của Nhân Sinh.

Những người lãnh đạo nằm trong Cơ Năng Hiến Pháp có những quyết định ảnh hưởng đến đời sống của người dân thuộc bên nhánh Chính Trị Tổng Cơ {Quốc Trưởng (tương đương với tổng thống), Trung Tâm Hội Nghị (quốc hội), Phê Phán Công Đường (cơ chế này các quốc gia hiện tại hoàn toàn không có)} đều phải đạt tiêu chuẩn đạo đức, nhân cách, tài năng và thời gian phục vụ bị giới hạn gồm cả tuổi tối thiểu và tối đa trong thời gian phục vụ cơ chế Chính Trị Tổng Cơ.

Vị Quốc Trưởng phải ở lứa tuổi 50-65 trong lúc tại vị. Thời gian phục vụ là 9 năm (được tái nhiệm một lần) cho một nhiệm kỳ. Tuy nhiên người viết bài này đề nghị là mỗi nhiệm kỳ 5 năm, được tái nhiệm một lần. Tức là tối đa Quốc Trưởng chỉ được phục vụ 10 năm.

Những người nằm trong Quốc Hội thì tuổi từ 40 đến 60 trong lúc tại vị. Mỗi một nhiệm kỳ là 4 năm và chỉ làm tối đa là ba nhiệm kỳ.

Phê Phán Công Đường phải ở tuổi 55 đến 70 nếu là những người có kinh nghiệm sinh hoạt trong cơ cấu chính quyền. Còn nếu tuyển chọn từ thường dân thì tuổi từ 60 đến 75 trong lúc tại vị. Những người trong cơ quan này chỉ phục vụ tối đa là 10 năm trong giới hạn tuổi đã ấn định. Vì là cơ quan phê phán cho nên đòi hỏi tuổi đời cao để có thể nhìn vấn đề rõ ràng trên lãnh vực Nhân Sinh hầu phê phán cho đúng sự việc, sự kiện.

Tất cả những người trong ba cơ cấu này bị kiểm soát bởi Kê Sát Viện (bên Hành Chính Tổng Cơ) về mặt Nhân Cách, Tư Cách.

Hành Chính Tổng Cơ là một cơ năng khác trong hệ thống lãnh đạo quốc gia. Hành Chánh Tổng Cơ có 6 viện: Nghiên Cứu Viện, Lập Pháp Viện, Hành Chính Viện, Quan Chính Viện, Tư Pháp Viện, và Kê Sát Viện. Đây là bộ phận hành chính, phục vụ cho nhu cầu của Chính Trị Tổng Cơ. Đây là cơ quan của những người chuyên môn cho nên thời gian phục vụ không bị giới hạn vì họ hoàn toàn không có những quyết định ảnh hưởng đến đời sống của người dân. Họ chỉ dựa vào những hiểu biết của chuyên ngành mình để phục vụ nhu cầu của các bộ phận khác trong cơ cấu chính quyền.

Chi tiết của những cơ quan này sẽ được trình bài trong một số bài nói về Cơ Năng Hiến Pháp, được sửa đổi cho phù hợp với tình hình thực tế của thế kỷ thứ 21, tuy nhiên vẫn dựa vào nguyên tắc chính của tư tưởng Duy Dân là Con Người và cơ chế hầu tránh chuyện độc tài xảy ra.

Vũ Hoàng Anh Bốn Phương

Tháng 5 năm 2026 (Việt lịch 4905)

https://nganlau.com/2026/06/07/con-nguoi-va-co-nang-hien-phap/

 

Chủ Nhật, 24 tháng 5, 2026

Duyên hay Nghiệp?

Cuộc sống thường hay dính liền với Duyên và Nghiệp. Nắm rõ hai ý niệm này để không phải buồn chán khi nhìn mọi vấn đề và để tâm được thanh thản sống, làm việc thay vì lo những chuyện không cần phải bận lo.

Duyên

Duyên là một cơ hội, một tình cờ. Vì đó là một cơ hội, một tình cờ, cái duyên đó đôi khi đến và đi. Cho nên không có gì ngạc nhiên khi quen ai đó, hoặc khi làm việc với ai đó, tự nhiên họ không còn muốn làm việc chung nữa. Đơn giản là duyên đã chấm dứt.

Hãy nhìn vào thực tế đời sống để thấy hình ảnh duyên ra sao. Thí dụ những người đấu tranh cho dân chủ của Việt Nam. Khởi đầu vì một hình ảnh bất xúc nào đó, họ sẵn sàng lên tiếng, biểu tình để đánh lên tiếng nói cảnh tỉnh cho mọi người và giải tỏa được tâm-sinh-lý trong bản thân trước hình ảnh hiện tại. Cái duyên đó được thử thách một thời gian và số đông những người đó sẽ chẳng còn quan tâm đến chuyện đấu tranh nữa bởi hình ảnh đấu tranh họ đã làm chỉ là một sự tình cờ, một cơ hội đưa đến trong khoảnh khắc của cuộc đời và nó chấm dứt ở một thời điểm nào đó.

Thí dụ bên trên dành cho những người đấu tranh. Tuy nhiên nếu nhìn cuộc sống thì từ người cầm bút, ca sĩ, nhạc sĩ, tình nguyện viên cho công việc thiện nguyện, cuộc sống lứa đôi đều có thể chấm dứt ở bất cứ thời điểm nào đó khi cái duyên đã hết.

Nghiệp (nợ)

Mọi sự việc đều khởi hành từ Duyên. Thời gian thử thách cái duyên đó và cái duyên trở thành nghiệp hay còn gọi là nợ.

Nghiệp là cái gắn liền với bản thân. Dù nghèo khổ hay giàu có, cá nhân đó vẫn tiếp tục theo đuổi công việc mà duyên đã tạo ra. Những người đấu tranh từ thuở nhỏ chống lại sự bất công và tiếp tục làm công việc đó dù họ nghèo hay giàu, dù họ không còn sống ở nơi bất công họ vẫn bỏ thời gian, công sức để thực hiện chuyện đấu tranh mà không hề bỏ cuộc. Cho dù họ là người duy nhất tại địa phương quan tâm đến chuyện đấu tranh, họ vẫn lặng lẽ tự chính mình làm mà không nản lòng, không bỏ cuộc. Đơn giản bởi đó là Nghiệp của chính bản thân họ.

Nhiều người thường hay phê phán ai đó ăn cơm nhà vác ngà voi (làm việc giúp người). Thực ra những ai làm chuyện ăn cơm nhà vác ngà voi bởi đó là nghiệp của chính bản thân họ, họ không thể nào ra khỏi cái suy nghĩ, hành động giúp người khác cho nên họ tiếp tục suốt cuộc đời còn lại của họ nếu sức khỏe họ cho phép.

Cuộc sống vợ chồng, bạn bè cũng khởi đi từ Duyên dẫn đến Nghiệp (nợ). Duyên dứt thì mọi thứ sẽ tan. Duyên còn mãi thì sẽ biến thành Nghiệp.

Phải luôn luôn chuẩn bị tinh thần trong cuộc sống để khi duyên đến và đi thì tâm thần không bị hụt hẫng, không cảm thấy cô đơn. Nếu mình là người duy nhất đang làm chuyện đấu tranh tại địa điểm A thì không có nghĩa là mình cô đơn mà ở địa điểm B, C, D cũng có những con người đấu tranh như chính mình. Đóng góp của mỗi người ở điểm A, B, C, D sẽ tạo ra một bức tranh; để khi duyên đến thì bức tranh sẽ được hình thành một cách tự nhiên, như là một sự chuẩn bị có tính toán.

Dĩ nhiên điều này khó làm nhưng khó không có nghĩa là không làm được. Phải tập luyện tâm của bản thân để hiểu rõ sự khác biệt của Duyên và Nghiệp. Từ đó không phải bận tâm khi một cuộc chia tay nào đó xảy ra. Mỗi cuộc chia tay là một bài học cho bản thân về Con Người, cuộc đời, quan điểm của cuộc sống.

Vũ Hoàng Anh Bốn Phương

Tháng 2 năm 2026 (Việt lịch 4905)

Nguồn: https://nganlau.com/2026/05/24/duyen-hay-nghiep/

 

 

 

Thứ Bảy, 24 tháng 1, 2026

Nền Tảng Tư Tưởng Duy Dân

 

Tư tưởng Duy Dân có từ thời 1940 của Lý Đông A viết ra. Từ thời đó cho đến này, rất nhiều người, gồm cả những người nằm trong các tổ đảng Duy Dân, viết nhiều về tư tưởng này. Tuy nhiên những điều viết đó chỉ là sự lập lại những gì Lý Đông A viết và không có gì mới lạ hơn để người đọc có thể áp dụng vào đời sống thực tế bản thân, thay vì nghe những lý luận trên mặt triết học.

Sự thất bại (nếu hiểu theo nghĩa chưa được phổ biến rộng rãi) của học thuyết Duy Dân không phải học thuyết đó không thực tế mà những người học những học thuyết đó không nắm rõ nền tảng nào cần phải có để hiểu rõ được tư tưởng Duy Dân. Chính vì không nắm rõ nền tảng cho nên tư tưởng Duy Dân vẫn có giá trị trên mặt lý luận nhưng không có giá trị về mặt thực hiện. Đọc và hiểu tư tưởng Duy Dân chỉ là một khía cạnh của đọc nhưng để gọi là hiểu thì phải thấy được đời sống thực tế đó hiện rõ trong tư tưởng Duy Dân ở chổ nào. Hiểu sai tức là đã không nắm rõ tư tưởng đó.

Nền tảng tư tưởng Duy Dân phải bắt đầu từ những người quan tâm về Con Người và Xã Hội. Cần phải nhấn mạnh là quan tâm về Con Người và Xã Hội bởi nếu quan tâm về xã hội (mặt nổi) mà không quan tâm về con người thì chỉ nhìn cái ngọn mà không nhìn cái gốc. Mọi biến loạn của xã hội phát xuất từ Con Người. Đó là lý do tại sao, tư tưởng Duy Dân bắt buộc khởi đầu từ Con Người.

Để có một Con Người Duy Dân cần phải có một nền giáo dục Duy Dân. Nhưng trước hết, phải có những Con Người nhìn ra được giá trị thực tế của tư tưởng Duy Dân, phải có những Con Người tự họ đã là Duy Dân qua sự tu dưỡng ở bản thân để có sự giác ngộ hầu nhìn ra được hình ảnh Duy Dân ở thực tế đời sống ra sao, hoặc phát hiện ra hình ảnh phản Duy Dân để tránh bước vào vết xe đổ.

Nền tảng căn bản của tư tưởng Duy Dân phát xuất từ sự tu dưỡng của mỗi cá nhân trong xã hội. Tu dưỡng ở mỗi Con Người có nhiều cấp độ khác nhau nhưng có một điểm chung là cuộc sống không những phục vụ cho chính mình, gia đình mình mà phải quan tâm đến xã hội, có trách nhiệm với xã hội.

Tương quan của mọi con người sống trên trái đất này là tương quan hỗ tương từ nền tảng xã hội. Đời sống người của thời đại là đời sống của hợp hòa cùng xã hội. Trong cái hợp hòa đó, sự dung hòa giữa quyền lợi cá nhân và xã hội, xã hội và cá nhân là sự dung hòa cần thiết để bảo đảm quyền lợi của cá nhân đồng thời không ảnh hưởng đến quyền lợi của xã hội. Làm được điều này cần phải có những Con Người có nền tảng tu dưỡng để sự dung hòa dễ dàng xảy ra.

Sự tu dưỡng mỗi cá nhân tạo ra sống thật, sống biết, sống đúng.

Sống thật mang nhiều ý nghĩa gồm cả sống không giả dối, sống với đời sống phù hợp với bản thân mình. Sức mình 10 mà đòi hưởng thụ 100 thì đó không phải là sống thật. Mình giỏi làm việc A mà đòi làm việc B thì rõ ràng không sống thật với chính khả năng của mình. Mình nói dối mà cứ nói là mình nói thật thì đây không phải là sống thật.

Sống biết là biết quan sát những người chung quanh để phát hiện những con người giả dối, ngụy biện. Sống biết để nhận diện được những Tham-Sân-Si của bản thân hầu điều khiển cái Tham-Sân-Si của chính mình thay vì để ba cái đó điều khiển Con Người của mình. Tham-Sân-Si luôn luôn có sẵn trong mỗi người và đó là sự tự nhiên của đời sống người. Tuy nhiên cái tự nhiên đó có thể được dung hòa để không đi đến quá độ, ảnh hưởng đến những người khác trong xã hội.

Sống đúng là sống không hổ thẹn với lương tâm của mình. Dĩ nhiên vấn đề này không đơn giản bởi khi nói đến lương tâm thì nhiều người thường hay hiểu lầm là lương tâm của A có thể khác lương tâm của B. Đây chỉ là sự ngụy biện. Đã là Con Người thì cái lương tâm của Con Người là lương tâm của mỗi người. Mình không muốn người khác lừa gạt, nói dối với mình thì chính mình không làm chuyện lừa gạt, nói dối với người khác.

Tu dưỡng bản thân hay còn gọi là Tu Dưỡng Thắng Nhân (tu dưỡng để thắng Tham-Sân-Si của chính mình, để tạo ra sự giác ngộ ở bản thân) là đề tài với nhiều chủ đề được khai triển trên trang mạng Ngàn Lau và đây là nền tảng căn bản của tư tưởng Duy Dân. Không có những nền tảng này thì khó mà thấu hiểu được chiều sâu của tư tưởng Duy Dân về Con Người.

Cho dù xã hội có những Con Người Duy Dân để hình thành một chính quyền Duy Dân nhưng Con Người luôn luôn thay đổi (tốt hơn hoặc xấu hơn) cho nên một cơ cấu chính quyền được gọi là Cơ Năng Hiến Pháp để thanh lọc những thành phần xấu, sửa đổi những chính sách sai lầm của giới lãnh đạo do sự phản ảnh của người dân chứ không phải chờ đợi đến mùa bầu cử.

Đấy chính là nền tảng từ Con Người đến Cơ Chế Chính Quyền. Có mấy ai thấy được giá trị của nền tảng đó? Có lẽ một học viện Duy Dân cần ra đời để mở những lớp huấn luyện nói về nền tảng Duy Dân và cơ chế Duy Dân ở tương lai. Phải xây dựng lại nền tảng của Con Người nếu không Con Người sẽ bị thời đại điện toán biến hóa họ thành những Con Người ỷ lại vào AI thay vì dựa vào chính bản thân để suy nghĩ, suy luận, suy xét và tự bản thân làm chủ lấy mình để trở thành một Con Người Nhân Chủ trước khi thực hiện Dân Chủ trên nền tảng Nhân Chủ đó.

Vũ Hoàng Anh Bốn Phương

Tháng 12 năm 2025 (Việt lịch 4904)

Nguồn: https://nganlau.com/2026/01/07/nen-tang-tu-tuong-duy-dan/

 

Thứ Sáu, 31 tháng 10, 2025

Học - Hỏi

 

Học-Hỏi là tiến trình của đời sống người dù muốn hay không muốn, chúng ta đều qua tiến trình này. Câu hỏi đặt ra là học cái gì và hỏi cái gì? Sự liên quan giữa hai cái này ra sao?

Học

Khi nói đến học thì chúng ta thường nghĩ đến trường sở. Tuy nhiên tiến trình học không phải chỉ chấm dứt hoặc bắt đầu từ trường sở mà tiến trình đó bắt đầu kể từ khi chúng ta có ý thức ở bản thân và chấm dứt cho đến khi trái tim ta ngừng đập.

Đọc tài liệu, báo chí, đoản văn trên mạng xã hội, sách, hay quan sát một cuộc nói chuyện cũng là học. Trao đổi, thảo luận cũng là tiến trình của học. Một bản tin nói về bạo động, ta học từ đó để không thực hiện chuyện bạo động. Một bản tin nói về lòng từ thiện của cá nhân A trong xã hội, ta học từ hình ảnh đó để sống thiện với bản thân và mọi người. Khi thảo luận một chủ đề nào đó, ta học trong sự thảo luận để mở mang tầm nhìn của bản thân.

Học không có biên giới, không có sự giới hạn trên nhiều lãnh vực. Cái học trên lãnh vực chuyên môn của nghề nghiệp cũng là cái học không biên giới bởi mỗi thời điểm, cái học của nghề nghiệp được đánh giá lại để sửa đổi nhằm hoàn chỉnh cho đúng với thời đại, với khoa học kỹ thuật của thời đại. Cái suy nghĩ của 20 năm trước, cách giải quyết vấn đề của 20 năm trước có thể thay đổi bởi có nhiều dữ kiện khác biệt, nhiều tiến bộ khoa học cho nên cái học của 20 năm trước không còn giá trị của hôm nay mà cần phải sửa đổi suy nghĩ về cái học cho phù hợp với hiện thực của thời đại.

Một điều ít ai nhận diện: Học tức là tiến trình tu dưỡng ở bản thân mình để trở thành người tốt hơn, tự chủ hơn. Tiếc rằng ít ai nắm rõ sự quan trọng của cái học ở trường đời và trường sở, cho nên họ không đạt được khả năng để tự chính mình làm chủ bản thân của mình mà bị các chính trị gia, cá nhân vật có tiếng tâm thu hút họ trở thành “nô lệ” cho người khác mà họ không nhận diện được.

Hỏi

Học mà không hỏi thì cũng giống như ăn mà không nhai, sẽ hại đến bản thân. Thế nào gọi là hỏi? Tại sao phải hỏi và hỏi cái gì?

Hỏi có nhiều hình thức. Hỏi ở chính mình là những gì mình đã học giúp được cái gì trong cuộc sống và sự giúp đó có lợi hay có hại cho xã hội. Không hỏi chính mình mà chỉ làm cho có lợi bản thân qua cái học (xấu) để rồi hại đến xã hội thì cái học đó làm hại đến hệ thống sinh hoạt của xã hội.

Con người khác con vật ở chỗ biết Hỏi. Cái tự hỏi ở bản thân là điều khó làm bởi khi tự mình hỏi chính mình với những điều mình học -- đòi hỏi một tiến trình tu dưỡng bản thân khá cao để có đủ lý luận đặt câu hỏi cho chính mình từ bài học của thực tế; và từ đó nâng cao phẩm chất người của mình thay vì biến phẩm chất người thành thú đội hình hài người. Rối loạn của xã hội ở chỗ này. Không đủ khả năng để tự hỏi chính mình thì những cái học lại tưởng là tốt để có những hành động hại đến xã hội.

Hỏi với người chia sẻ bài học với mình. Khi ở trường lớp, sự giảng dạy của thầy cô giáo có giới hạn cho nên là người học, chúng ta luôn luôn đặt ra những câu hỏi với thầy cô giáo nhằm mục đích xác định lại cái hiểu biết của mình qua cái học. Ở ngoài xã hội thì phải cố gắng tìm cái nguồn mình học để trao đổi thẳng với người quản trị nguồn đó hầu tạo cái học được tốt hơn, hoàn hảo hơn.

Hỏi tự chính mình với câu trả lời đôi khi bị chủ quan cho nên cần phải xác định lại bằng cách hỏi ở những người khác hoặc hỏi ở nguồn mình đã học để xác định cái hiểu của mình khách quan chứ không chủ quan. Trong tiến trình hỏi đó, với câu hỏi mình đặt ra cho nguồn đã học, sẽ cho thấy câu hỏi của bản thân đã nắm được điều học hay chưa.

Kết

Học phải đi đôi với Hỏi để xác định lại việc học của bản thân có hiểu trong tinh thần khách quan hay chủ quan. Học mà không Hỏi thì là tiến trình rất nguy hiểm bởi sẽ biến bản thân thành con vẹt, lập đi lập lại điều đã học mà hoàn toàn không hiểu rõ chiều sâu của những gì đã học, không áp dụng những gì đã học vào đời sống thực tế với bản thân và xã hội.

Vũ Hoàng Anh Bốn Phương

Tháng 8 năm 2025 (Việt lịch 4904)

Nguồn: https://nganlau.com/2025/10/15/hoc-hoi/

 

 

Thứ Bảy, 25 tháng 10, 2025

Vòng Tròn Ỷ Tha-Tự Kỷ-Động Tha

 

Nếu Sinh-Lão-Bệnh-Tử là vòng tròn của cuộc sống Con Người thì một vòng tròn khác ít ai để ý đến đấy là Ỷ Tha-Tự Kỷ-Động Tha. Hãy cùng nhau tìm hiểu để thấy vòng tròn này thực tế hiện hữu trong đời sống của Người.

Ỷ Tha, Tự Kỷ, Động Tha là nguyên lý sinh hoạt của đời sống người được nói đến trong tư tưởng Duy Dân của Lý Đông A. Vòng tròn này luôn luôn đi theo thứ tự đã được diễn tả.

Ỷ Tha là dựa vào, nhờ vào bên ngoài. Khi ta sinh ra, ta phải dựa vào bên ngoài là người mẹ mang bào thai. Người mẹ dựa vào thức ăn do bác nông dân tạo ra để ta có dinh dưỡng hầu phát triển bào thai thành hình hài của một “con người” nằm trong bụng mẹ chờ ngày ra đời.

Khi ta sinh ra đời, tinh thần Ỷ Tha đó vẫn tiếp tục xảy ra cho đến khi ta chết đi. Có nghĩa là cuộc sống của bản thân ta luôn luôn nhờ vào xã hội, bộ máy xã hội để cung cấp cho chính ta những nhu cầu sống mà Con Người cần phải có. Tuy nhiên một cái khác trong ta sẽ hình thành đấy là Tự Kỷ.

Tự Kỷ là tự mình xét lại những cái mình học-hỏi, nghe-thấy để tự mình làm chủ lấy chính mình và từ đó có hành động mang đầy chất Người thay vì a dua theo số đông để biến thành “nô lệ” hoặc chọn đời sống vong bản ở chính bản thân mình. Tự Kỷ đóng vai trò rất quan trọng trong việc hình thành Tinh Thần Tự Chủ của một cá nhân.

Tự Kỷ hoàn toàn khác với Vị Kỷ. Vị Kỷ là vì mình. Trong khi Tự Kỷ là xét lại mọi vấn đề để có lối ứng xử lợi cho mình và không hại đến xã hội. Tự Kỷ là xét lại toàn bộ vấn đề để sẵn sàng vượt qua được những tuyên truyền dối trá, sẵn sàng đối diện với tù đày khi chọn thái độ chống lại những giả dối, sai trái của xã hội mà những giả dối đó làm hư hỏng bao nhiêu thế hệ. Hình ảnh những người tù nhân lương tâm ở các nước độc tài là hình ảnh của Tự Kỷ.

Chính Tự Kỷ đã làm cho những tù nhân lương tâm vượt lên nỗi sợ hãi để tranh đấu cho quyền làm Người của mình và cả dân tộc. Chính Tự Kỷ mà những tuyên truyền từ bộ máy cầm quyền cộng sản Việt Nam không còn hiệu quả ở những Con Người có tinh thần Tự Kỷ.

Tự Kỷ có hai chiều hướng khác nhau. Tự Kỷ có thể biến Con Người chọn thái độ Vị Kỷ thay vì chọn thái độ tự mình làm chủ bản thân mình. Những người dân sống tại Việt Nam thấy được (dựa vào tinh thần Tự Kỷ) sự tàn ác, tàn bạo của đảng cộng sản Việt Nam nhưng chọn thái độ thụ động vì sợ đi tù. Đây là Tự Kỷ dựa trên nền tảng Vị Kỷ. Trong khi đó những tù nhân lương tâm Tự Kỷ dựa trên nền tảng Nhân Chủ.

Cần phải nhìn rõ tinh thần Tự Kỷ từ những người tù nhân lương tâm. Có người đấu tranh vì tinh thần Tự Kỷ nhưng ngược lại có người chọn đấu tranh vì tinh thần Vị Kỷ để đạt cái gì đó cho bản thân chứ mục đích chính không phải vì phải-trái, công bằng-không công bằng. Người có tinh thần Tự Kỷ sẽ không bao giờ ủng hộ một cá nhân thiếu chữ Nhân xa lắc, xa lơ, mang bản tính của độc tài mà Trump là thí dụ điển hình, được những cựu tù nhân lương tâm, những người đấu tranh cho lẽ phải ủng hộ.

Vòng cuối cùng là Động Tha. Động Tha tức là tác động vào người khác. Sự tác động này gồm cả xấu và tốt. Bởi những người xấu sẽ tác động vào những người khác có tính xấu để họ tiếp tục sẵn sàng làm chuyện xấu có lợi cho bản thân. Người tốt thì sẽ tác động vào xã hội, vào những người quan tâm về cái tốt để họ dựa vào tấm gương sáng đó, có thể không đứng lên đấu tranh, nhưng chọn cuộc sống không giả dối, cuộc sống thiện để xã hội được tốt hơn, hoặc sẵn sàng lên tiếng ủng hộ người có tinh thần Tự Kỷ.

Ỷ Tha – Tự Kỷ - Động Tha cứ thế mà tiếp tục trong đời sống của mỗi người, hiện hữu trong đời sống mà ít ai trong chúng ta nhận diện. Nhưng đó là vòng tròn của một trong nhiều hình thức sinh hoạt của loài người. Hiểu để triển khai tốt hơn.

Vũ Hoàng Anh Bốn Phương

Tháng 9 năm 2025 (Việt lịch 4904)

Nguồn: https://nganlau.com/2025/10/24/vong-tron-y-tha-tu-ky-dong-tha/

 

 

 

 

 

Thứ Sáu, 29 tháng 8, 2025

Xã Hội Sinh Mệnh (P1)

Trong xã hội dân chủ, hiến pháp thường nhắc tới tự do, bình đẳng, nhân quyền, dân quyền ... vì mọi người sinh ra như nhau khi có cùng tinh thần, thể xác. Tuy nhiên, con người có bộ óc giống nhau nhưng suy nghĩ, học hỏi, hấp thụ kiến thức khác nhau cho dù được giáo dục như nhau. Thể xác cũng vậy, cùng là tim, phổi, ruột gan nhưng cơ thể mỗi người phát triển khác nhau: mập, ốm, cao thấp, mạnh yếu....

Do đó, hiến pháp có quy định nhân quyền, dân quyền, công bằng, giáo dục, cơ hội thăng tiến... nhưng xã hội vẫn có khác biệt khi mỗi cá nhân mang đức, nghiệp và khả năng biết (tri) khác nhau.  Cho nên các nhà lãnh đạo chính trị, cách mạng phải biết hiến pháp sẽ phải như thế nào để đối phó với sự khác biệt trong mỗi cá nhân, xã hội khi "dụng nhân như dụng mộc". Vậy phải biết "mộc" như thế nào hay nói cách khác "nhân" như thế nào khi biết mình, biết người?

Để thực hiện cuộc cách mạng cho VN thời đại 2000s, Lý Đông A (LĐA) đưa ra thuyết Duy Dân dựa trên những cá nhân có tu dưỡng để nắm vững sinh mệnh tâm lý, xây dựng xã hội qua Cơ Năng Hiến Pháp, kinh tế nhân bản. Lối nhìn của LĐA về xã hội được ghi nhận như "xã hội sinh mệnh", gọi là các tầng:

A. Đức tầng: Lý tưởng tầng, nhân cách tầng và sinh mệnh tầng.

B. Nghiệp tầng: Sáng ý nghiệp, quyết đoán nghiệp và thực hành nghiệp.

C. Tri tầng: Tiên tri tiên giác, hậu tri hậu giác, bất tri bất giác.

Vậy thì chúng ta có thể hiểu như thế nào?

A. Đức tầng

Quan niệm về phúc đức là nền tảng của đạo học Đông phương được truyền bá qua tử vi, dịch lý, phong thủy chịu chi phối bởi Âm-Dương (Lão Tử). "Âm" (đức) được hiểu như sự tương truyền qua nhiều đời (kiếp trước) và có ảnh hưởng đến hiện tại. "Dương" (kiếp này) được hiểu là những tính tốt do bản thân thực hiện và duy trì trong đời sống hiện tại (có hoặc không có) liên quan đến quá khứ. Những cá nhân có "đức" chưa hẳn là có "tài" (khả năng) để thực hiện ích lợi xã hội. Tuy nhiên xã hội có nhiều người đức độ thì sẽ bình yên, an hòa hơn là một xã hội thiếu đức. Đó là căn bản của đời sống (sinh mệnh) xã hội. LĐA đi xa hơn để vạch rõ hơn: 

Lý tưởng tầng: "Lý" đến từ suy nghĩ trong tư "tưởng". Lý tưởng là "giấc mơ" mà mỗi cá nhân theo đuổi suốt cuộc đời. Nhưng không phải ai cũng sống có lý tưởng. Tại sao? Theo tử vi thì lá số của bạn có sao tốt, có sự nghiệp, có danh, tài (làm quan hay chuyên gia…) nhưng không nói rõ thuộc dạng nào. Trong thực tế đời sống thì có thể thấy sự khác biệt khi đa số người thành công như vậy không phải ai cũng có cuộc sống lý tưởng.

Lý tưởng là có tầm nhìn cao thượng, xa hơn phạm vi gia đình, gia tộc. Lý tưởng có mục đích phục vụ tha nhân, xã hội, những kẻ kém may mắn hơn bình thường. Lý tưởng đòi hỏi hy sinh và đức độ cũng như khôn ngoan, sáng suốt. Nhưng không phải ai có lý tưởng sẽ thành công hay sẽ là người tốt. Người có lý tưởng mù quáng, thiếu sáng suốt, suy nghĩ sẽ không làm nên cơm cháo gì khi lý tưởng không thiết thực.

Cũng có thể là lý tưởng tốt đẹp nhưng cá nhân không đủ tu dưỡng, đức độ, tài năng để thực hiện. Trường hợp khác là có đức để đạt được ngôi vị cao cả khi thực hiện lý tưởng nhưng không đủ tài năng để chủ động (tự chủ) và thường bị kẻ khác lợi dụng, khuynh đảo. Cá nhân sống có lý tưởng có thể đến từ nghiệp (kiếp trước) hay tự phát do học hỏi, quan sát trong đời sống hiện tại.

Nhân cách tầng: Khi cá nhân ý thức mình là một cá thể độc lập với Thân và Tâm thì đó là "ngã" (cái tôi) xuất hiện. Từ đó mỗi cá nhân chọn cho mình một đặc tính (tư cách). Nếu cá nhân ý thức được giá trị "người" trong thiên nhiên so với các sinh vật khác và tôn trọng "người" thì đó là nhân cách (cách sống như con người). Nếu dựa vào sức mạnh, khôn ngoan, may mắn để lấn hiếp, lợi dụng kẻ khác thì đó là kẻ phá hoại xã hội.

Giáo dục (từ xã hội) có thể giúp thay đổi cá nhân nhưng giáo dục sai lầm lại làm tăng gia sức hủy hoại xã hội. Do đó, giáo dục đến từ sự quan sát, tự học hỏi sẽ xây dựng mỗi cá nhân khác nhau (đức, nghiệp). Quan sát là khởi điểm và chung điểm của giáo dục. Giáo dục lại là khởi điểm và chung điểm của chính trị. Chính trị là thiết kế và chấp hành nhân sinh: xây dựng nền giáo dục con người và xã hội. 

Vậy nhân cách của người lãnh đạo chính trị cho biết giáo dưỡng chế độ, xã hội sẽ như thế nào. Do đó đức đóng vai trò quan trọng đối với các nhà lãnh đạo vì hiếm có, khó thực hiện hơn tài vì người tài chỉ muốn phô trương, thực hiện cái "tài" bất kể lợi hại khác với đức phải suy nghĩ chính chắn. Khi con người không có (hay không tìm ra) lý tưởng sống thì giữ nhân cách là điều chính yếu để con người tham dự xã hội.

Sinh mệnh tầng: Cuối cùng của đức tầng là sinh mệnh, được coi như giao phó cho số mạng (sinh sao chịu vậy). Tuy không có lý tưởng nhưng mệnh chịu ảnh hưởng thời gian, không gian, tính di truyền, giáo dục, sở thích vẫn có thể đóng góp cho xã hội qua ảnh hưởng của Nghiệp tầng.

Xã Hội Sinh Mệnh (P2)

Trần Công Lân

Tháng 4 năm 2025 (Việt lịch 4904)

https://nganlau.com/2025/07/01/xa-hoi-sinh-menh-p1/

 

Xã Hội Sinh Mệnh (P2)

B. Nghiệp tầng

Nghiệp tầng là phạm trù liên quan đến nghiệp. Ý niệm về nghiệp (theo Phật học) là một ý niệm phức tạp. (1) Nghiệp là truyền kiếp, từ kiếp trước liên quan đến kiếp sau khi điều kiện chín mùi thì quả xảy ra không theo một lịch trình nhất định nào. (2) Nghiệp xảy ra vì con người "vô minh" (thập nhị nhân duyên) đưa đến hành động và ngũ quan (ngũ uẩn) tác động lôi cuốn con người tạo nghiệp. (3) Nghiệp quá khứ không sửa được. (4) Nghiệp hiện tại tiếp tục xảy ra, vậy nghiệp tốt hay xấu sẽ ảnh hưởng đến cá nhân, xã hội như thế nào?

Sáng ý nghiệp: Những nhà phát minh là có mang nghiệp "sáng ý". Đây là những người có ý kiến đóng góp cho xã hội vì sáng kiến nảy ra trong tâm họ đến từ đâu? Vì sao "nó" xảy ra trong tâm người này mà không xảy ra với người khác? Khi sáng kiến đưa đến hành động tạo ra sản phẩm ích lợi cho xã hội.

Vì danh lợi con người thi đua sáng kiến bất kể tốt xấu. Tốt ít xấu nhiều. Xấu gây tai hại khiến xã hội chịu thiệt hại nhiều vì phải sửa chữa, ngăn chận cái xấu lan tràn tác hại. Cũng là những nhà phát minh nhưng có người phát minh sản phẩm tốt, ích lợi xã hội, kinh tế trong khi có người chỉ gặp rắc rối, kiện tụng, thiệt hại nhiều hơn do hậu quả của nghiệp. 

Quyết đoán nghiệp: Có những người sinh ra để thi hành những quyết định mà người khác không dám, không muốn hay không đủ khả năng. Đó là những giám đốc, quản lý công ty, cơ xưởng. Các nhà buôn, tiểu thương cũng thuộc hạng này khi quyết định theo đuổi các ngành thương mại cung cấp hàng, sản phẩm cho xã hội.

Có hạng người vì đam mê, có hạng người thích lợi dụng thời cơ để thủ lợi, làm ít ăn nhiều hơn là mục đích phục vụ nhu cầu xã hội. Cũng do ảnh hưởng của nghiệp, người có "quyết đoán nghiệp" sẽ gặp công việc thích hợp, hợp ý, thuận lợi nếu có đức. Ngược lại, cũng là vai trò phải quyết đoán nhưng toàn chuyện gai góc, nhức đầu, vất vả.

Thực hành nghiệp: Là hạng người "làm công": công nhân, tư chức, công chức hay chuyên môn trung cấp chỉ thực hiện những gì đã được vạch ra, huấn luyện, học tập... hoặc hạng người vì bất đắc dĩ (không đủ tài năng, khả năng để làm việc khác) nên chỉ làm việc bởi người khác sai khiến, điều động. Có người cũng là thầy, thợ nhưng suốt đời chỉ làm một nơi, một hãng. Có người khác thì năm chìm bảy nổi, chín cái long đong cho dù ngành nghề như nhau cũng chỉ vì nghiệp nặng nhẹ khác nhau.

Xã Hội Sinh Mệnh (P3)

Trần Công Lân

Tháng 4 năm 2025 (Việt lịch 4904)

Nguồn: https://nganlau.com/2025/07/01/xa-hoi-sinh-menh-p2/

 

 

Xã Hội Sinh Mệnh (P3)

 

C.  Tri tầng

Tri tầng chú trọng đến khả năng biết, thấy (qua sự hiểu biết, kiến thức) của mỗi cá nhân tuy rằng mỗi người đều có thị giác (mắt) để quan sát học hỏi nhưng Tâm có ghi nhận, giữ lâu dài và vận dụng cái biết vào cuộc sống hay không. Cũng do chịu ảnh hưởng của Đức và Nghiệp nên có người nhớ dai, học giỏi nhưng không thành tài hay giúp ích cho xã hội.

Tiên tri tiên giác (biết trước, thấy trước): Có hạng người do tu dưỡng đạt tới trình độ "biết trước, thấy trước" sự việc xảy ra do quan sát các sự kiện, dữ kiện liên hệ (thấy trước không phải bằng mắt mà bằng trí quan sát). Khả năng này liên quan tới Đức và Nghiệp chứ không do đi học ABC mà có.

Hậu tri hậu giác (biết sau, thấy sau): Có hạng người do học hỏi mà biết sau khi sự học hoàn tất (hậu tri) và từ đó đạt được cái thấy do hậu quả của sự học và biết (hậu giác). Đó là hạng người có thể huấn luyện và sử dụng lâu dài.

Bất tri bất giác (không biết, không thấy): Có hạng người tuy có huấn luyện nhưng vẫn không nắm lấy cái biết (bất tri) và cũng không thấy cái cần phải làm của mình (bất giác) vì tâm trí không tập trung hay không chấp nhận vì nhiều lý do. Đây không phải loại người mắc bệnh tâm trí mà chỉ là hạng bê bối, thờ ơ, mang tâm lý lợi dụng xã hội, tha nhân.

Cũng trong cùng tài liệu Sinh Mệnh Tâm Lý, LĐA nhắc đến

“Chủ quan thiên tính và tâm lý cơ cấu: Chủ quan thiên tính và tâm lý cơ cấu phối hợp với khách quan, thời gian và không gian kinh qua các phạm trù nhu yếu và khái niệm mà hình thành các tính nghiệp, tình nghiệp và ý nghiệp. Tính nghiệp là do tàng-trụ-tính, tàng- trụ-thức và nghiệp hành (karma) xã hội mà hình thành. Tình nghiệp và ý nghiệp cũng vậy, tức là những thiên tính hậu thiên (tập quán và xã hội nhân quả, duyên nghiệp)”.

a. Tính Nghiệp: Ca dao tục ngữ VN có câu "cha mẹ sinh con, trời sinh tính". Từ cá tính cho thấy Tâm của cá nhân đã suy nghĩ, học hỏi những gì để thực hiện trong đời sống bản thân. Theo năm tháng, hành động của Thân kết thành Mệnh. Đó là ý nghĩa của Tính-Tâm-Thân-Mệnh.

b. Tình Nghiệp: Con người có lý trí và tình cảm nhưng không phải ai cũng cân bằng được hoạt động của Lý và Tình. Đó cũng là lý do để tu dưỡng vì sự thiên lệch của Lý hay Tình đều đưa đến khủng hoảng trong đời sống con người. Con người rối loạn thì xã hội rối loạn. Đó là nguồn gốc của xã hội tâm lý và gia đình tâm lý.

c. Ý Nghiệp: Con người có đầu óc để suy nghĩ nhưng không phải ai cũng có ý chí cho dù có cùng học thức, kiến thức, giáo dục.... Vì sao đứa trẻ từ nhỏ có khuynh hướng ABC? Tại sao cùng sở thích, đam mê, học vấn... mà có trẻ thành công, thất bại cho dù cha mẹ, thầy cô có khuyến khích hay không? Tại sao trẻ trong hoàn cảnh khó khăn, nguy hiểm lại có quyết tâm, năng lực cao hơn đứa trẻ trong bình yên? Có kẻ nản lòng thối chí nửa đường hay thay đổi với điều kiện ABC trong khi kẻ khác vẫn duy trì ý chí trước sau như một? Làm sao tạo ý chí và chuyển tải ý chí từ người với người vẫn là điều bí mật mà chỉ có kẻ tu dưỡng thâm sâu mới hiểu (nếu trải qua: Nhân tướng, Ngã tướng, Pháp tướng, và Thọ tướng).

Kết

Như vậy tầng A, B, C là hàng ngang và sự phân chia theo các tầng là hàng dọc. Sinh mệnh tâm lý từ cá nhân (người) vào xã hội, mỗi hạng người là hàng dọc, xã hội là hàng ngang thăng tiến mọi người nhưng thay vì tự lực tiến lên đóng góp cho xã hội (tung hợp) thì con người quay ra chèn ép bóc lột lẫn nhau để thống trị xã hội.

Hiểu Sinh Mệnh Tâm Lý cũng như xã hội sinh mệnh là yếu tố căn bản để biết "phân công, phân lợi, phân mệnh". LĐA đưa ra "toại kỳ sở nhu, tận kỳ sở năng" để có "chính kỳ sở mệnh" vì phải có tu dưỡng để chuẩn bị cho bản thân (cá nhân) nếu muốn đóng góp cho đời sống xã hội (xã hội sinh mệnh) thì mệnh của cá nhân phải phù hợp với "mệnh" của xã hội.

Sinh mệnh cá nhân và xã hội đan (quyền) với nhau để thành cấu trúc Duy Dân. "Chính kỳ sở mệnh" cũng là điều kiện thanh lọc hàng ngũ của Duy Dân vì kẻ giả Duy Dân sẽ không vượt qua được giai đoạn tu dưỡng (toại kỳ sở nhu, tận kỳ sở năng) cho dù (giả sử) có vượt qua thì "chính kỳ sở mệnh" không phải ai muốn cũng được như ý.

"Tính-Tâm-Thân-Mệnh" cũng là một cách khác để nhìn người: khi "Tính" tình của một cá nhân cho biết "Tâm" của cá nhân đó. Tâm được phối hợp với "Thân" (tinh thần và vật chất là hỗ tương nguyên nhân) mà "Thân" thì đi liền với "Mệnh". Biết "Tính" thì có thể đoán "Mệnh". Đó cũng là lý do tài liệu Duy Dân được lưu truyền mà không (hay chưa) phát triển vì kẻ giả Duy Dân có rất nhiều nhưng không dẫn chứng được quá trình tu dưỡng để giải thích nét đặc sắc thuyết Duy Dân của LĐA.

Tư tưởng Duy Dân dành cho những ai có tu dưỡng để nắm (hiểu) xã hội sinh mệnh (Đức-Nghiệp-Tri) chứ không phải dùng để mưu đồ chính trị. Nói đến Duy Dân là nói đến cách mạng. Cách mạng đòi hỏi tu dưỡng. Hãy nói về quá trình tu dưỡng của bạn trước khi đi tìm (hay nói) Duy Dân.

Trần Công Lân

Tháng 4 năm 2025 (Việt lịch 4904)

Nguồn: https://nganlau.com/2025/07/01/xa-hoi-sinh-menh-p3/

 


Chủ Nhật, 24 tháng 8, 2025

Cơ Năng và Bản Vị

Cơ năng và bản vị là thực tế đời sống của người và vật thể. Mỗi bản vị (con người, công ty, vật thể, bộ phận quản trị quốc gia) đều hình thành từ những cơ năng trong thiên nhiên hoặc trong xã hội.

Mỗi con người trong xã hội vừa là bản vị vừa là cơ năng tùy theo ở vị thế nào trong sinh hoạt của xã hội. Sự chào đời của một cá nhân, cá nhân đó là một bản vị (con người) được hình thành từ những cơ năng khác như tim, phổi, gan, óc, máu, bao tử, ruột v.v…. Những cơ năng trong thân thể Con Người hình thành bản vị cá nhân của con người đó. Dĩ nhiên những cơ năng trong thân thể con người, tự nó phải là bản vị riêng và hoàn hảo. Nếu bản vị của tim không hoàn hảo thì đứa trẻ sinh ra chưa chắc sẽ sống còn hoặc sống khỏe.

Hai cá nhân (Nam-Nữ) hợp thành bản vị gia đình. Bản vị gia đình có thành tố cơ năng: vợ, chồng, con cái (nếu cả hai quyết định có con). Nhiều gia đình hợp thành bản vị gia tộc, làng xóm, dân tộc, và quốc gia.

Cứ mỗi lần một bản vị trở thành một cơ năng để hình thành một bản vị mới, lớn hơn, với mục đích nâng cao cuộc sống về mặt tinh thần lẫn vật chất. Bản vị nào không đạt được mục đích của sự kết hợp thì sẽ vỡ tan theo thời gian mà sự đổ vỡ của gia đình, gia tộc, chế độ là thí dụ điển hình.

Về vật chất thì mọi sự hình thành của các vật chất đều từ sự hình thành của nhiều cơ năng để trở thành bản vị của chính nó. Thí dụ đơn giản là bản vị cây bút chì được hình thành từ những cơ năng thân gỗ, chì, và cục gôm nếu có. Sự hình thành của bản vị chiếc xe hơi cũng là sự kết hợp của nhiều cơ năng khác nhau của chiếc xe mà những cơ năng chính sẽ góp thành một bản vị xe hoàn hảo, an toàn cho người sử dụng.

Một bản vị muốn được tốt đẹp, phục vụ được lợi ích của mục đích kết hợp thì phải luôn luôn bảo trì, điều chỉnh theo thời gian. Dĩ nhiên có những bản vị theo thời gian, dù được bảo trì, vẫn phải tan vỡ bởi sự tồn tại của bản vị con người và vật thể có giới hạn của nó. Sinh-lão-bệnh-tử là chu kỳ của bản vị Con Người. Một vật thể cũng có chu kỳ riêng của chính nó mà chiếc xe là thí dụ điển hình.

Trong sinh hoạt của bản vị xã hội, mỗi cá nhân phải đóng đúng cơ năng của mình trong bộ máy hoạt động của xã hội bởi nếu đóng sai vị trí sẽ làm xã hội bất ổn. Bản vị tổ chức điều hành bộ máy quốc gia cũng vậy, cần phải có một hệ thống lựa chọn để người tham dự vào bản vị này đóng đúng vị trí cơ năng của mình và phù hợp với khả năng của mình thì bộ máy sinh hoạt của quốc gia đạt hiệu quả cao.

Sự thành công hay thất bại của các công ty bởi do người lãnh đạo biết lựa chọn người hay không biết lựa chọn người vào hệ thống điều hành công ty. Biết lựa chọn người và sắp đặt đúng chỗ, công ty sẽ thành công và lớn mạnh. Không biết lựa chọn và sắp đặt người sai chỗ, sự thất bại của công ty sẽ xảy ra sớm hay muộn.

Cơ Năng và Bản Vị là thuyết sinh hoạt của loài người từ tư tưởng Duy Dân của Lý Đông A. Hiểu để thấy được giá trị thực tế của tư tưởng này, dựa vào sinh hoạt đời sống người để tạo ra cuộc sống hài hòa, mọi người cùng tiến chứ không phải mạnh được yếu thua như sinh hoạt hiện giờ của xã hội hoặc của thế giới.

Vũ Hoàng Anh Bốn Phương

Tháng 6 năm 2025 (Việt lịch 4904)

Nguồn: https://nganlau.com/2025/08/24/co-nang-va-ban-vi/

 

 

 

Hỗ Tương Nguyên Nhân

 

Hỗ tương nguyên nhân là một trong những lý tắc căn bản của Duy Dân được Lý Đông A đưa ra trong 4 tiền đề và 5 nền tảng (Chìa Khóa Thắng Nghĩa) cũng như nguyên tắc đối lập thống nhất. Nếu ai tự hỏi vì sao Lý Đông A đưa ra hai lý tắc này và sẽ có người khởi tâm bác bỏ yếu tố nền tảng để chối bỏ sự hiện hữu và giá trị của Duy Dân hay sự đóng góp của Lý Đông A về lý luận từ triết học đến chính trị. Câu trả lời có thể tìm thấy qua tài liệu Sinh Mệnh Tâm Lý: Âm-Dương. Âm với Dương phải có hỗ tương thì mới có vạn vật. Trong Thái Âm có Thiếu Dương và Thái Dương có Thiếu Âm.

Mức độ hỗ tương tùy theo chủ đề, đối tượng, lãnh vực để có sự thống nhất qua đối lập. Hỗ tương là sự hợp tác cùng chiều: A và B cùng sản xuất xe điện khác vật liệu, hình thức nhưng có hỗ tương qua trao đổi kỹ thuật, kiến thức. Đối lập là sự hợp tác nghịch chiều: A và B có kế hoạch kinh tế khác nhau nhưng cùng mục tiêu giảm ô nhiễm và tiết kiệm năng lượng. Cả hai có thể cạnh tranh trên việc thực hiện có kết quả cao nhất nhưng không phá hoại lẫn nhau để thắng. Chúng ta đi vào đời sống hàng ngày để thấy tác dụng ra sao. 

Mỗi bản vị trong đời sống người hay vật chất đều có tác động hỗ tương nguyên nhân. Nói một cách đơn giản là mỗi con người hay vật thể được hình thành từ những thành tố bên ngoài hoặc bên trong vẫn dựa vào thành tố bên ngoài để được sống còn hay phát triển như là mục đích chung.

Hãy nhìn vào thân thể con người được hình thành từ những cơ năng (bộ phận) trong con người. Những cơ năng đó, tốt hay xấu, ảnh hưởng đến cuộc sống bản thân của con người. Ngay cả con người, tự bản thân, phải dựa vào tập thể để sống-còn-biến-hóa.

Mỗi cá nhân trong xã hội đóng vị trí, vai trò của cá nhân đó trong bộ máy xã hội. Vị trí đó giúp đỡ người khác, giúp đỡ bộ máy xã hội hoạt động mà mọi người cùng tiến hóa. Không một cá nhân nào, dù là tài giỏi thuộc dạng thiên tài, có thể làm được gì nếu không có bộ phận của xã hội giúp đỡ để đem cái tài giỏi đó vào đời sống thực tế.

Người nông dân đóng vị thế tạo ra nông sản để nuôi những người không có khả năng làm nông dân. Không có người sản xuất ra lúa, gạo, trái cây, rau cải thì thế giới này sẽ không có đủ thực phẩm nếu chỉ dựa vào thiên nhiên.

Ngược lại người nông dân phải dựa vào vị bác sĩ mỗi khi trở bệnh, dựa vào các kỹ sư nông nghiệp để gia tăng sản phẩm trồng trọt, dựa vào kỹ sư cơ khí để giảm bớt sức lao động nhưng vẫn đạt hiệu quả lao động cao.

Vai trò của mỗi cá nhân trong xã hội (nông dân, bác sĩ, kỹ sư, công nhân, thương gia...) đều quan trọng như nhau để đóng góp sinh hoạt đều hòa của một quốc gia, xã hội.

Nói về vật chất thì cũng có sự hỗ tương nguyên nhân. Thí dụ chiếc xe được hình thành từ nhiều cơ năng (bộ phận xe). Nhưng bản vị chiếc xe sẽ trở thành vô giá trị nếu không có nhiên liệu xăng hoặc điện để tác động vào bộ phận máy móc hầu vận chuyển chiếc xe từ chỗ này đến chỗ nọ. Người sử dụng xe phải dựa vào công ty sản xuất nhiên liệu để có thể sử dụng chiếc xe hiệu quả.

Quan hệ Nam-Nữ là quan hệ hỗ tương nguyên nhân với mục đích phát triển giống nòi. Cho nên cái ý nghĩ trọng nam khinh nữ hay trọng nữ khinh nam là đi ngược lại nguyên lý của hỗ tương nguyên nhân.

Quan hệ người dân và bộ máy điều hành quốc gia (chính quyền) là quan hệ hỗ tương nguyên nhân. Không có người dân thì sẽ không có bộ máy chính quyền hoặc có nhưng chỉ có danh chứ hoàn toàn không có giá trị gì của thực tế. Vì là quan hệ hỗ tương, cả hai phải hợp tác để tạo lợi ích chung cho toàn thể. Chính sách, luật lệ đưa ra người dân phải tuân thủ để tạo ra một xã hội hài hòa. Chính sách, luật lệ phải phục vụ quyền lợi của người dân chứ không phải phục vụ quyền lợi của kẻ nắm quyền điều hành. Sự phân chia giai cấp dưới chế độ cộng sản hay phân biệt Tả-Hữu, giàu-nghèo dưới chế độ tư bản đều đưa đến rối loạn, hủy diệt vì không thực hiện "hỗ tương nguyên nhân". Hỗ tương nguyên nhân không phải chỉ đứng một mình mà phải hiểu nó đi cùng với đối lập thống nhất.

Quyền lợi cá nhân và quyền lợi tập thể là hỗ tương nguyên nhân. Khi cá nhân còn khỏe mạnh, đi làm đóng thuế để giúp những người không khỏe mạnh và khi cá nhân về già, không còn đủ sức để tạo kinh tế nuôi bản thân thì xã hội sẽ giúp đỡ cá nhân đó.

Vì cuộc sống kinh tế, cá nhân phải làm một công việc nào đó và nếu công việc đó gây ảnh hưởng môi sinh, môi trường sống của tập thể thì cá nhân đó bắt buộc tìm một giải pháp khác để giải quyết đời sống kinh tế của mình không hại đến xã hội. Đây là trường hợp quyền lợi cá nhân phải xét lại khi cái quyền lợi đó ảnh hưởng đến đời sống của tập thể. Cá nhân không vì đời sống kinh tế của mình mà thực hiện chuyện lừa gạt người khác.

Mỗi người đều tạo cho mình một nghề nghiệp để nuôi sống bản thân. Nghề nghiệp đó không thể nào là sự lừa gạt bởi bất cứ sự lừa gạt nào đều đi ngược lại nguyên lý sống của con người là hỗ tương nguyên nhân. Tất cả xuất phát từ nền tảng Nhiên (tự nhiên)-Nhân (tư tưởng)-Dân (xã hội). Điều hòa Âm Dương trong thiên nhiên phải được con người học hỏi và phổ biến trong xã hội (đối lập) để đóng góp (hỗ tương) với thiên nhiên thì nhân loại mới tồn tại. Nạn ô nhiễm môi sinh và khí hậu thay đổi là do con người không bảo vệ thiên nhiên.

Hỗ tương nguyên nhân được nhìn ở một góc nhìn khác là chúng ta luôn luôn học hỏi từ người khác; từ những người ác cho đến những người thiện; từ những người thiếu kiến thức trường sở đến những người có kiến thức trường sở; từ những người thông minh đến những người không thông minh; từ những người nhỏ tuổi đến những người lớn tuổi, ngang tuổi với chính mình. Những học hỏi đó, cộng với sự tu dưỡng ở bản thân, chúng ta sẽ tạo ra một cuộc sống hài hòa, cùng tiến cho mọi người.

Dĩ nhiên muốn làm được chuyện này, muốn thấu hiểu nguyên lý hỗ tương nguyên nhân cần có hệ thống giáo dục từ thuở nhỏ để trẻ thấm dần nguyên lý sống này và khi trưởng thành, trẻ sẽ có lối ứng xử tốt đẹp đối với người chung quanh và xã hội. Chiến tranh cũng có thể chấm dứt từ đấy. Nhưng ai sẽ là người mở đường? Lý Đông A để lại Duy Dân. Ai tu dưỡng để hiểu Duy Dân? Có cầm tài liệu Duy Dân mà thiếu tu dưỡng thì vô ích. Cũng như làm chính trị thì phải đi tu trước, nhưng đã đi tu thì không làm chính trị. Ai hiểu thì không cãi. Ai cãi thì không hiểu.

Không có nhà giáo (educator) thì ai hướng dẫn lớp sau khi trường học chỉ là nơi tranh chấp tiền bạc và quyền lực. Giáo dục dẫn đến chính trị. Chính trị có đảng hay không đảng? Có đảng thì tranh chấp quyền lực, chức vụ, phân biệt bạn, thù... Không đảng thì lấy gì nối kết, tập họp, tin tưởng lẫn nhau khi gặp nguy khốn?

Làm sao biết "đối lập" nhưng vẫn thống nhất mà không ly khai? Vì sao nói cách mạng Duy Dân xuyên suốt vì nó không phải chỉ 2 chiều (hỗ tương) mà là đa phương (lập thể) với quy luật gồm 3 yếu tố (Nhiên-Nhân-Dân, Phân công-phân lợi-phân mệnh...). Cuối cùng là "Tung Hợp". Hiểu Duy Dân thì hiểu Tung Hợp và ngược lại. Chu kỳ hoàn tất trên lý thuyết.

Hỗ Tương Nguyên Nhân là nguyên lý được nhắc đến trong tư tưởng Duy Dân của Lý Đông A. Hiểu và thực hiện được nó không phải dễ bởi tư tưởng Lý Đông A đã có gần 100 năm nay nhưng có ai hiểu rõ nguyên lý để áp dụng vào đời sống bản thân trước khi nói đến áp dụng vào xã hội.

Vũ Hoàng Anh Bốn Phương

Tháng 6 năm 2025 (Việt lịch 4904)

Nguồn: https://nganlau.com/2025/08/15/ho-tuong-nguyen-nhan/

 

Chủ Nhật, 25 tháng 5, 2025

Duy Dân

 

Khi nói đến hai chữ Duy Dân thì những người đã từng quan tâm đến nền dân chủ của đất nước chắc sẽ biết đó là tư tưởng Duy Dân. Nhưng tư tưởng Duy Dân là gì?

Duy Dân là hệ thống những nguyên lý (lý tắc) sinh hoạt của Con Người (tu dưỡng, sinh mệnh tâm lý), xã hội (giáo dưỡng dân tộc) và cơ cấu chính quyền (giáo dưỡng chế độ) của một quốc gia (dân tộc). Nếu các quốc gia cùng tham dự trên một căn bản cương thường (Duy Nhân cương thường) thì thế giới mới có hòa bình, bình đẳng vì dựa trên cùng căn bản giáo dục con người, xã hội và cơ cấu chính trị.

Duy Dân đưa ra các nguyên tắc căn bản và mở (open) để thảo luận và phát triển theo nhu cầu thời đại dựa trên các tiền đề nền tảng: Căn bản Nghĩa: Nhiên-Nhân-Dân (tự nhiên, con người, xã hội); Căn bản Học: triết học-khoa học-sử học. Căn bản luận: Bản thể luận, nhận thức luận, phương pháp luận.

Duy Dân dựa vào kinh nghiệm sinh hoạt quá khứ của nhân loại Đông Tây để cải tiến và tránh sai lầm qua giáo dục để ổn định đời sống cá nhân, xã hội.

Nó là những nguyên lý sinh hoạt của Con Người, xã hội và dựa vào nguyên lý đó để xây dựng lên một cơ cấu chính quyền được gọi là Cơ Năng Hiến Pháp.

Con Người từ xa xưa cho đến nay, không cần biết thuộc giống dân nào, sống ở đâu, đều có nhu cầu giống nhau: Nhu cầu nhu yếu, nhu cầu xã hội, nhu cầu tinh thần.

Nhu cầu nhu yếu là cái ăn, mặc, an ninh, phát triển giống nòi, tự do. Nhu cầu xã hội là Con Người không thể nào sống mà không có xã hội. Xã hội là nơi để bảo đảm sự sống, sự an bình cho Con Người; là nơi để mọi người tương tác cùng nhau tiến hóa qua nguyên lý "hỗ tương nguyên nhân" và "đối lập thống nhất" chứ không phải là hình thức mạnh được yếu thua của thời nguyên thủy loài người. Khi nhu cầu nhu yếu và xã hội được bảo đảm thì Con Người cần nhu cầu tinh thần để tạo ra những nền văn hóa nhân bản hầu tạo ra những thanh nhàn trong cuộc sống và đóng góp tích cực vào đời sống của xã hội.

Cá nhân luôn luôn tác động vào xã hội và ngược lại xã hội tác động vào cá nhân. Cá nhân xấu, nhiều cá nhân xấu sẽ tạo ra một xã hội xấu. Một xã hội tốt sẽ có chương trình giáo dục tốt để tạo ra những Con Người có nền tảng đạo đức nhằm cân bằng quyền lợi cá nhân với quyền lợi của xã hội.

Nguyên lý sinh hoạt của con người là Ỷ Tha (nhờ vào), Tự Kỷ (tự xét lại), và Động Tha (tác động bên ngoài). Bạn sinh ra nhờ bào thai người mẹ, nhờ những vị y tá, bác sĩ đỡ bạn khi bạn chào đời. Khi chào đời, bạn vẫn nhờ người mẹ, xã hội cung cấp nhu cầu nhu yếu cho bản thân bạn. Khi bạn lớn lên, bạn xét lại những sự kiện chung quanh bạn để bạn có lối ứng xử người, nhân bản, hướng thiện (hoặc bạn sẽ làm ngược lại những điều trên). Từ hình ảnh của bản thân bạn (xấu hay tốt), người khác dựa vào để học hỏi. Bạn là người xấu thì sẽ lôi kéo những người xấu như bạn. Những người tốt nhìn hình ảnh xấu của bạn, họ sẽ không làm theo bởi sự Tự Kỷ của họ có gốc của Nhân. Đây là vòng tròn của nguyên lý sinh hoạt của người.

Nguyên lý sinh hoạt của con người, xã hội là cơ năng và bản vị. Cá nhân bạn là một bản vị nhưng khi bạn gia nhập vào xã hội thì bạn trở thành cơ năng của xã hội. Ngay cả bản vị (thân thể bạn) được hình thành từ những cơ năng (tim, phổi, óc, máu, gan, v.v…). Những cơ năng này đóng vị trí độc lập nhưng cần nhau để sống còn. Tim ngưng đập thì toàn bộ những cơ năng khác bị ảnh hưởng và bản vị (thân thể bạn) của chính bạn sẽ chết.

Dựa vào các nguyên lý trên mà Cơ Năng Hiến Pháp ra đời để điều hành hoạt động của xã hội. Mỗi bộ phận trong cơ cấu chính quyền cần nhau và mỗi bộ phận phải đóng góp toàn khả năng cho cái nhiệm vụ mình đảm trách để những bộ phận khác không bị ảnh hưởng. Không phân quyền, không tập quyền mà là đan quyền (đan nhau và cần nhau để tồn tại). Người dân trực tiếp tham dự chính trị qua các cơ cấu đan quyền của Cơ Năng Hiến Pháp. Quyết định cuối cùng là ở tập thể nhân dân chứ không do đại diện dân cử.

Cơ Năng Hiến Pháp phải dựa vào nền tảng Nhân Bản Cương Thường (Duy Nhân Cương Thường) để điều hành quốc gia. Nhân Bản Cương Thường là những nhu cầu cần thiết của Con Người mà những người nắm vị thế lãnh đạo trong Cơ Năng Hiến Pháp dựa vào đó để làm nền tảng sinh hoạt, không vi phạm nền tảng đó.

Cơ Năng Hiến Pháp đặt ra những tiêu chuẩn tuổi tác, khả năng, thời gian phục vụ để tránh sự lão hóa, lạm quyền, chuyên quyền của giới chức điều hành chính quyền. Người dân sẽ đốc thúc và kiểm soát hệ thống chính quyền nhằm mục đích phục vụ đời sống của quốc dân. Người dân có một hệ thống để điều chỉnh những vụ án xử sai trái của tòa án tối cao. Con Người luôn luôn có những sai lầm và quyết định của tòa án tối cao cũng có thể phạm sai lầm, và nếu xảy ra thì người dân có quyền điều chỉnh sai lầm đó qua một cơ cấu Phê Phán Công Đường.

Hiến Pháp của quốc gia phải 10 năm tiểu điều chỉnh và 30 năm đại điều chỉnh. Với sự tiến bộ của thời đại, Hiến Pháp của một quốc gia cũng cần phải thay đổi theo sự tiến bộ của xã hội. Đây chính là Hiến Pháp sống đúng nghĩa.

Duy Dân hiểu mục đích chính trị là thiết kế và chấp hành nhân (dân) sinh chứ không phải chính trị hiện tại của thế giới là tranh giành quyền lãnh đạo từ các đảng phái chính trị. Nếu nói theo cô Phạm Đoan Trang là Chính Trị Bình Dân. Bình dân là đơn giản thì đa số dân mới tham dự. Sự phức tạp chỉ là cách gian lận của tầng lớp trí thức

Duy Dân là sống thực, sống thiện, sống đơn giản, sống đúng, sống biết. Thời đại hôm nay nhiều người sống dựa vào vật chất. Dĩ nhiên chúng ta không thể nào sống mà không có vật chất. Vấn đề là chúng ta đặt cái vật chất đó ở vị thế nào? Kinh tế thấp mà đòi hỏi phải có cái này, cái kia vì ngoài kia nhiều người có thì đó là cuộc sống đua đòi của vật chất. Tư bản theo đuổi cá nhân chủ nghĩa, chủ quan. Cộng sản đặt nặng xã hội, khách quan. Đó là bất công xã hội vì lý luận không thống nhất.

Duy Dân chủ trương một nền kinh tế tự do, tư bản nhân bản chứ không phải nền kinh tế tư bản hoang dã đặt quyền lợi công ty lên trên quyền lợi của xã hội, của môi trường. Trái đất có tài nguyên giới hạn. Cá nhân phải ý thức nhu cầu bản thân, gia đình thì mới tránh tranh chấp, xung đột vì quyền lợi.

Duy Dân quan niệm giáo dục là khởi điểm và chung điểm của chính trị. Cho nên phải có một nền giáo dục nhân bản bởi chỉ có những con người nhân bản mới có thể thiết kế và chấp hành nhân sinh. Nền giáo dục đó đào tạo cho mỗi Con Người thấy được trách nhiệm, bổn phận đối với bản thân, gia đình và xã hội. Nền giáo dục đó tạo điều kiện cho mỗi cá nhân tập được tinh thần Dân Chủ trên nền tảng Nhân Chủ.

Duy Dân phải bắt đầu từ chính bản thân của mỗi người. Phải có sự tu dưỡng cao để hướng thượng, làm tròn nhiệm vụ của một công dân, phân công một cách hợp lý, và phân lợi một cách công bằng. Đây là nền tảng căn bản của Duy Dân.

Mỗi cá nhân phải đạt sự tu dưỡng từ thấp đến cao. Thấp nhất là sống thiện, sống thật, làm tròn bổn phận của một công dân tuân thủ pháp luật, và tham gia vào sinh hoạt chính trị của quốc gia nếu có khả năng và ý chí phục vụ. Cao nhất là ở vị thế lãnh đạo cần phải có nền tảng đạo đức của một Con Người, không có nền tảng đó thì là nguy hiểm cho xã hội. Ở vị thế lãnh đạo cao phải thấu hiểu sự liên hệ của Triết Học, Sử Học, và Khoa Học để có những chính sách tổng thể, đem lại hiệu quả cao, phù hợp với đời sống thực tế của người dân.

Duy Dân hiểu rõ vị trí của mình trong xã hội để làm tròn vị trí đó. Hiểu sai vị trí sẽ tạo ra hỗn loạn của xã hội. Người làm kinh tế, dù giỏi cách mấy, không có khả năng lãnh đạo chính quyền bởi lãnh đạo chính quyền đòi hỏi nền tảng đạo đức, kinh nghiệm quản trị bộ phận chính quyền, và hiểu phục vụ người dân hoàn toàn khác với phục vụ công ty để tạo lợi nhuận.

Đây là những sơ đẳng về Duy Dân. Duy Dân rất thực tế bởi dựa vào nguyên lý sinh hoạt của Con Người và nguyên lý đó có từ xưa cho đến nay, chỉ vì con người thiếu lý luận (biện chứng) để tìm ra sự thực. Chủ đề Duy Dân áp dụng vào trong thực tế đời sống được trình bày trên trang mạng nganlau.com.

Vũ Hoàng Anh Bốn Phương

Tháng 2 năm 2025 (Việt lịch 4904)

Nguồn: https://nganlau.com/2025/05/15/duy-dan/

 

Phê Phán Công Đường (P1)

Phê (bình) và Phán (quyết) Công Đường (trước công chúng). Phê bình là một sự nhận xét công bằng (bình) tức là cả 2 mặt thuận (Pro) và nghị...